Phụ lục: Trả lời của Việt Nam về các khuyến nghị – 2009

bngvn

UPRChính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoan nghênh sự quan tâm của các nước, tổ chức quốc tế và những ý kiến bình luận, khuyến nghị mang tính xây dựng của các nước thành viên Liên Hợp quốc (LHQ) tại phiên họp thứ 5 của Nhóm làm việc về Cơ chế Kiểm điểm định kỳ (UPR) của Hội đồng Nhân quyền xem xét Báo cáo quốc gia UPR của Việt Nam ngày 08 tháng 05 năm 2009. Sau quá trình nghiên cứu, xem xét kỹ lưỡng các ý kiến, bình luận và khuyến nghị, Chính phủ Việt Nam xin trả lời và có bình luận thêm liên quan đến một số vấn đề được nêu như sau:

1. Việt Nam coi trọng cơ chế UPR và nghiêm túc chuẩn bị báo cáo theo cơ chế này, coi đây không chỉ là việc thực hiện nghĩa vụ của nước thành viên LHQ, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền mà còn là cơ hội để các cơ quan, tổ chức và đại diện các tầng lớp nhân dân Việt Nam xem xét toàn diện, liên ngành, về chính sách, luật pháp và thực tiễn đảm bảo các quyền con người ở Việt Nam. Cũng từ đó, và qua phiên đối thoại, Việt Nam đúc rút được những bài học kinh nghiệm tốt và thấy rõ hơn những thách thức để đề ra những giải pháp hiệu quả vì sự thụ hưởng ngày càng tốt hơn các quyền của người dân. Báo cáo của Việt Nam đã được đa số các nước tham gia phiên đối thoại đánh giá là chuẩn bị công phu, toàn diện, có nội dung phong phú, thể hiện cam kết về đảm bảo quyền con người và hợp tác quốc tế; các nước cũng đánh giá cao cách đề cập xây dựng, cởi mở làm tăng tính thuyết phục trong báo cáo của Việt Nam.

Việt Nam chia sẻ quan điểm của nhiều nước cho rằng các quyền con người là phổ quát, không thể tách rời, phụ thuộc và liên quan lẫn nhau; việc thúc đẩy và bảo vệ tất cả các quyền và tự do cơ bản của con người là trách nhiệm hàng đầu của các Quốc gia; trong quá trình thực hiện cần tính đến các yếu tố đặc thù của quốc gia và khu vực, cũng như các hoàn cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa, tôn giáo. Những điều này đã được khẳng định trong các điều ước quốc tế cơ bản về quyền con người và Tuyên bố và Chương trình Hành động Viên năm 1993. Việt Nam cũng chia sẻ quan điểm rộng rãi như mới đây được khẳng định lại trong văn kiện cuối cùng của Hội nghị Cấp cao 15 của Phong trào Không liên kết (Cai-rô, Ai-cập, 11-16/7/2009) là các vấn đề nhân quyền cần được đề cập một cách công bằng, bình đẳng, minh bạch, không thiên vị, không chọn lọc, và phải trên tinh thần xây dựng, dựa trên đối thoại, tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, cần quan tâm đảm bảo thực hiện các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yêu của người dân, và cộng đồng quốc tế cần hỗ trợ nỗ lực của các nước đang phát triển nhằm đảm bảo việc thực hiện đầy đủ các quyền này.

Trên tinh thần đó, trong những năm vừa qua, Nhà nước Việt Nam, với việc coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế – xã hội, luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người, đã chú trọng thực hiện các chương trình kinh tế xã hội nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; đồng thời coi trọng việc phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy công bằng và an sinh xã hội… Những nỗ lực này được sự ủng hộ, tham gia rộng rãi của nhân dân đã đem đến nhiều đổi thay tích cực trong mọi mặt của đời sống xã hội tuy cũng còn những thách thức phải tiếp tục phấn đấu giải quyết.

2. Tại báo cáo UPR của Việt Nam được thông qua tại phiên họp của Nhóm làm việc (8/5/2009), các nước đã đưa ra 123 khuyến nghị. Việt Nam đã chấp nhận phần lớn các khuyến nghị đó. Đối với các khuyến nghị này, Chính phủ Việt Nam sẽ nghiêm túc nghiên cứu và xem xét thực hiện với khả năng tốt nhất cho phép, trong đó có việc đưa ra kế hoạch nghiên cứu, tiếp tục xem xét tiến tới gia nhập một số công ước quốc tế về quyền con người; xây dựng xây dựng lộ trình và kế hoạch để xem xét thông qua hoặc sửa đổi nhiều luật, hoàn thiện hơn nữa khuôn khổ pháp lý để bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền con người ở Việt Nam; đẩy mạnh triển khai hơn nữa các biện pháp nhằm tăng cường các biện pháp đảm bảo quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền phụ nữ, trẻ em, dân tộc thiểu số miền núi; các chương trình xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, hỗ trợ đời sống đồng bào dân tộc, đồng thời tiếp tục học tập và chia sẻ kinh nghiệm với các nước…

3. Liên quan đến những khuyến nghị là những việc Việt Nam đã và đang thực hiện

(i) Khuyến nghị về việc cung cấp cho những người bị bắt theo luật an ninh hoặc luật tuyên truyền những bảo vệ pháp lý cơ bản, trong đó có quyền được tuỳ chọn đại diện pháp lý trong suốt quá trình tố tụng và xét xử công khai

Việc bảo vệ pháp lý cơ bản cho những người bị bắt vì vi pháp luật, được pháp luật Việt Nam quy định đầy đủ và đảm bảo thực hiện trên thực tế: Bộ Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam quy định mọi đối tượng bị tạm giữ, bị can, bị cáo đều có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa (Điều 11), lựa chọn và thay đổi người bào chữa (Điều 57), được xét xử công khai trừ trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ (Điều 18), có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án (Điều 19), quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng (Điều 43). Chương IV của Luật này cũng có các điều khoản riêng quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 48, 49, 50). Trên thực tế, những người bị bắt, tạm giữ, xét xử dù vì bất cứ tội danh nào, kể các các tội liên quan đến an ninh quốc gia đều được đảm bảo theo đúng các quy định nêu trên.

(ii) Khuyến nghị về việc giảm thời gian án tù cho các tội phi bạo lực:

Pháp luật Việt Nam có những quy định cụ thể và rõ ràng (Chương III, Điều 8) về từng loại tội phạm và căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và mức án tù tương ứng đối với từng loại. Đồng thời, thực hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của Nhà nước Việt Nam, hàng năm, Nhà nước Việt Nam đều xem xét giảm án và đặc xá cho hàng chục nghìn phạm nhân đã có thành tích cải tạo tốt, đáp ứng các điều kiện nêu trong Luật Đặc xá 2008. Việc giảm án, giảm thời hạn chấp hành hình phạt (một lần hoặc nhiều lần) cho những người bị kết án phạt tù, dù phạm tội bạo lực hay phi bạo lực cũng được quy định cụ thể tại Điều 58, 59 của Bộ Luật Hình sự. Chỉ tính riêng dịp tết Nguyên đán 1/2009, đã có hơn 15 nghìn phạm nhân được trả tự do, trong đó có 36 người có quốc tịch nước ngoài và 6 người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia.

(iii) Khuyến nghị về việc thông qua luật bảo vệ người tố cáo để những người tố cáo tham nhũng được bảo vệ, tránh khỏi bị truy tố hoặc quấy rối

Nhà nước Việt Nam “tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng”; “toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội có quyết tâm chính trị cao đấu tranh chống tham nhũng” (Báo cáo chính trị, Đại hội Đảng Khóa X). Chính phủ Việt Nam mới đây đã phê chuẩn Công ước chống tham nhũng. Chính phủ Việt Nam luôn coi trọng việc bảo vệ những người tố cáo tham nhũng như một khâu công tác quan trọng để đảm bảo cuộc đấu tranh chống tham nhũng đạt hiệu quả. Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực tăng cường khuôn khổ pháp lý để bảo vệ những người đấu tranh chống tham nhũng. Ngoài các quy định chung tại Điều 74 Hiến pháp (nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo) và Điều 132 Bộ Luật Hình sự (quy định về tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo), Luật Khiếu nại Tố cáo quy định cụ thể việc áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo an toàn cho người tố cáo, và xử lý những người có hành vi đe dọa, trả thù, xúc phạm người khiếu nại, tố cáo (Điều 66, Điều 96 đến 100). Ngoài ra, còn có Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, Tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, Tố cáo, Nghị định số 53/2005/NĐ-CP ngày 19/4/2005 của Chính phủ quy định chi tiết về việc xử lý đối với các hành vi đe dọa, trù dập, trả thù người khiếu nại, tố cáo và những người khác có hành vi xâm phạm quyền khiếu nại tố cáo của công dân. Với việc tham gia Công ước chống tham nhũng, Việt Nam cam kết sẽ áp dụng các điều khoản của Công ước về bảo vệ nhân chứng, nạn nhân, điều tra viên cũng như những người tố cáo.

(iv) Khuyến nghị về việc tăng cường nỗ lực nhằm đảm bảo tôn trọng đầy đủ quyền tự do tôn giáo và thờ cúng, trong đó có việc rà soát luật và quy định ở tất cả các cấp, liên quan đến quyền tự do tôn giáo, nhằm đảm bảo phù hợp với Điều 18 Công ước Các quyền Dân sự Chính trị.

Là quốc gia đa tôn giáo, với trên 20 triệu người theo các tôn giáo khác nhau và 80% người dân có đời sống tín ngưỡng, tôn trọng tự do tôn giáo là một chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam. Nhà nước coi tín ngưỡng – tôn giáo là nhu cầu chính đáng của người dân; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo; bảo hộ các tổ chức này bằng pháp luật, trên nguyên tắc bình đẳng; có chính sách ưu đãi, cấp đất để các tổ chức tôn giáo xây dựng nơi thờ tự.

Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng – tôn giáo, thờ cúng được quy định rõ trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật, phù hợp với luật pháp quốc tế. Nhà nước Việt Nam cũng luôn đặt ưu tiên cho việc hoàn thiện hệ thống các văn bản luật pháp liên quan đến tôn giáo. Vì vậy, cùng với việc thường xuyên rà soát các văn bản luật và quy định của Nhà nước ở tất cả các cấp, từ trung ương đến địa phương, Nhà nước cũng xây dựng kế hoạch để sửa đổi, bổ sung các quy định, văn bản luật về tôn giáo tín ngưỡng – như trình Quốc hội về về sửa đổi Pháp lệnh tín ngưỡng – tôn giáo (2004) cho phù hợp với thực tiễn và để đảm bảo tốt nhất sinh hoạt tôn giáo tự do của người dân. Ban Tôn giáo Chính phủ là cơ quan quản lý nhà nước ở cấp Trung ương, thực hiện thường xuyên chức năng kiểm tra – thanh tra việc thực hiện các quy định về đảm bảo tự do sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng ở các cấp địa phương. Những sai phạm của chính quyền hoặc cán bộ ở cơ sở đều được xử lý kịp thời để đảm bảo thuận lợi cho sinh hoạt tôn giáo của mọi người dân.

Bên cạnh đó, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và bằng các biện pháp hành chính, việc phổ biến và giáo dục chính sách – pháp luật cho cán bộ chính quyền làm công tác tôn giáo từ cấp Trung ương tới địa phương cũng như cho các chức sắc và tín đồ tôn giáo được coi là một trọng tâm. Chính phủ đã tổ chức các lớp tập huấn về tôn giáo cho cán bộ làm việc ở các cấp chính quyền cơ sở. Người dân được tiếp cận với nhiều thông tin trong lĩnh vực tôn giáo và ngày càng có hiểu biết rõ về những quy định pháp luật liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong sinh hoạt tôn giáo. Sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ, được cộng đồng quốc tế ghi nhận; điển hình là việc Lễ hội La Vang được tổ chức hàng năm với hàng chục nghìn đồng bào theo thiên chúa giáo tham dự; tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc 2008, dự kiến tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo Thế giới 2010 và năm Thánh của Giáo hội Công giáo (2010 – 2011)…

(v) Tăng cường các biện pháp nhằm ngăn chặn bạo lực và phân biệt đối xử đối với các dân tộc thiểu số

Ở Việt Nam, 54 dân tộc có lịch sử gắn bó lâu đời với nhau, cùng chung sống hoà bình, sát cánh cùng nhau dựng nước và giữ nước. Đoàn kết dân tộc luôn là một nguyên tắc cơ bản, nhất quán trong chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam. Nguyên tắc đối xử bình đẳng giữa các dân tộc không chỉ được thể hiện trong nhiều chính sách, văn bản luật, các chương trình phát triển kinh tế-xã hội, mà còn được đảm bảo trên thực tế. Không những thế, đối với các dân tộc thiểu số, Chính phủ Việt Nam luôn tôn trọng và có các biện pháp đảm bảo quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo quy định của Hiến pháp và nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc (Điều 5 Hiến pháp 1992). Quan điểm này của Hiến pháp được thể hiện trong các văn bản pháp luật, chính sách và được đảm bảo thực thi bằng các biện pháp, chính sách của Chính phủ, các cơ quan tư pháp; các vi phạm bị nghiêm trị theo pháp luật. Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam có nhiều chương trình, chính sách phát triển đặc thù, ưu tiên cho đồng bào dân tộc như Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi, biên giới và vùng sâu vùng xa (Chương trình 135), Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo …

4. Những Khuyến nghị Việt Nam đề nghị sẽ trả lời trong dịp Hội đồng Nhân quyền xem xét Báo cáo của Nhóm làm việc về phiên bảo vệ Báo cáo quốc gia của Việt Nam, trong đó có việc xem xét gia nhập công ước ILO về lao động cưỡng bức; tiếp tục quá trình gia nhập các công ước thích hợp của ILO; xem xét tích cực việc phê chuẩn Công ước 169 về người bản địa và người bộ tộc ở các nước độc lập; xem xét tích cực việc đón Nhóm làm việc về vấn đề giam giữ độc đoán vào thăm Việt Nam.

(i) Việt Nam xem xét thuận với khuyến nghị về việc xem xét gia nhập công ước ILO về lao động cưỡng bức và tiếp tục quá trình gia nhập các công ước thích hợp khác của ILO. Việt Nam gia nhập ILO từ năm 1980. Là quốc gia thành viên của ILO, trong quá trình soạn thảo văn bản pháp luật, Chính phủ Việt Nam rất quan tâm nghiên cứu đưa nội dung các Công ước ILO vào luật pháp quốc gia. Khuôn khổ pháp luật quốc gia của Việt Nam về cơ bản phù hợp với nội dung các công ước của ILO; đến nay Việt Nam đã phê chuẩn 17 Công ước của ILO, trong đó có 5/8 Công ước cơ bản (Công ước số 29 về lao động cưỡng bức, Công ước số 100 về trả công bình đẳng, Công ước số 111 về chống phân biệt đối xử tại nơi làm việc, Công ước số 138 về tuổi tối thiểu được đi làm việc và Công ước số 182 về loại bỏ mọi hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất). Hiện Chính phủ Việt Nam đang nghiên cứu để trình Quốc hội phê chuẩn các Công ước số 184, Công ước 105, Công ước số 122 và Công ước số 150, đặc biệt việc nghiên cứu về khả năng gia nhập Công ước số 105 sẽ được trình Quốc hội thông qua vào tháng 10/2010. Ngoài ra, Việt Nam đang nghiên cứu các công ước số 26, 131, 95 để phục vụ cho việc soạn thảo Luật tiền lương tối thiểu; Công ước số 159 phục vụ soạn thảo luật Người tàn tật.

(ii) Việt Nam thấy không cần thiết tham gia công ước 169 của ILO do không có người bản địa. Việt Nam có 54 dân tộc cùng chung sống, phát triển và tương trợ lẫn nhau qua quá trình lịch sử. Các dân tộc đều bình đẳng và được tạo điều kiện phát triển trên mọi lĩnh vực. Chính phủ Việt Nam đã thể hiện sự tôn trọng đối với các quyền lợi chính đáng của người bản địa với việc ủng hộ thông qua Tuyên bố về Người bản địa của Liên hợp quốc.

(iii) Việt Nam sẽ xem xét tích cực khuyến nghị đón Nhóm làm việc về giam giữ độc đoán: Chính phủ Việt Nam đã mời và đón Nhóm làm việc về vấn đề giam giữ độc đoán vào thăm năm 1994; thời gian vừa qua, Việt Nam cũng đã hợp tác và đón nhiều đoàn quốc tế vào thăm các trại giam của Việt Nam, trong đó có Đoàn các chuyên gia Nhà tù của Thụy Sỹ, Đoàn của Úc, Na Uy, EU… Việc thu xếp, bố trí thời điểm và khả năng đón tiếp sẽ phải được thảo luận cụ thể để, trên nguyên tắc đảm bảo tôn trọng chủ quyền quốc gia, đảm bảo chuyến thăm thành công, phù hợp với yêu cầu của cả hai bên.

5. Những khuyến nghị không được Việt Nam ủng hộ:

(i) Về đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, tự do hội họp, tự do internet; sửa đổi Bộ Luật Hình sự để đảm bảo rằng Luật sẽ không bị áp dụng một cách bất công nhằm ngăn cản tự do ngôn luận; sự độc lập của báo chí, báo chí là công cụ thực hiện quyền công dân (trong đó có các quyền ghi tại Điều 19, Công ước Quyền Dân sự – Chính trị); vấn đề báo chí tư nhân; về tự do internet, loại bỏ các qui định hạn chế blog:

Đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do bày tỏ chính kiến và quyền được thông tin cho mọi người dân là chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam. Hiến pháp, Luật Báo chí, Luật phòng chống tham nhũng, Luật khiếu nại – tố cáo v.v. (và sắp tới là Luật tiếp cận thông tin) đều quy định rõ về đảm bảo sinh hoạt báo chí, ngôn luận tự do và cởi mở tại Việt Nam, phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế. Hệ thống các đoàn thể chính trị – xã hội, các tổ chức quần chúng, các tổ chức nghề nghiệp tại Việt Nam tạo thành cơ chế đầy đủ để người dân bày tỏ ý chí – nguyện vọng, cùng Nhà nước tham gia quản lý xã hội.

Việt Nam đang nỗ lực thực hiện Nhà nước pháp quyền, trong đó, mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật. Trong quá trình tố tụng, người dân được tiếp cận đầy đủ với các hình thức hỗ trợ tư pháp và khi xét xử, toà án chỉ tuân theo pháp luật. Do vậy, những người tham gia hoạt động báo chí cũng phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Nhà báo có quyền được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp, không bị đe doạ, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, không bị thu giữ tài liệu và phương tiện hành nghề, không bị cản trở khi hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật. Đồng thời, cũng như các nước khác, nhà báo cũng phải có các nghĩa vụ: thông tin trung thực, phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, không được lạm dụng danh nghĩa nhà báo để vi phạm pháp luật và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người đứng đầu cơ quan báo chí về về nội dung tác phẩm báo chí của mình và về những hành vi vi phạm pháp luật về báo chí.

Báo chí Việt Nam là diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội, nhân dân, là công cụ bảo vệ lợi ích của xã hội và các quyền tự do của nhân dân; là lực lượng quan trọng trong công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách và pháp luật của Nhà nước. Mọi người dân có quyền đề đạt nguyện vọng, phát biểu và đóng góp ý kiến trên tất cả các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội trên các phương tiện thông tin đại chúng. Do vậy, trên thực tế, báo chí đóng vai trò là kênh phản biện xã hội, phát huy hiệu quả tích cực, đặc biệt là trong phòng chống tham nhũng, trở thành lĩnh vực hoạt động tương đối độc lập với Nhà nước.

Luật báo chí hiện hành quy định các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp được phép ra báo và sở hữu báo chí. Trên thực tế, Nhà nước đã cho phép nhiều doanh nghiệp đã sở hữu các phương tiện truyền thông, báo chí và truyền hình hoặc tham gia vào nhiều công đoạn trong quy trình hoạt động báo chí (các tập đoàn kinh tế như Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông (VNPT), FPT, Tập đoàn Dầu khí, Truyền hình Cáp Việt Nam (VTC)… đã sở hữu báo in, báo điện tử và đài truyền hình).

Nhà nước Việt Nam khuyến khích sử dụng internet để phục vụ phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội; hỗ trợ cải cách hành chính; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.Chính nhờ đó, qua 10 năm hình thành và phát triển dịch vụ Internet ở Việt Nam (1997-2007), trình độ phát triển và tốc độ đăng ký sử dụng Internet tại Việt Nam đã tăng nhanh, đạt mức tương đương nhiều nước ở khu vực. Hiện nay Internet đã hình thành mạng lưới cung cấp dịch vụ 64/64 tỉnh, thành phố. Tổng số thuê bao internet phát triển mới trong năm 2007 đạt 1,18 triệu thuê bao, tăng 2,4% so với năm trước, nâng tổng số thuê bao trên toàn mạng đến hết năm 2007 đạt hơn 5,2 triệu máy, đạt mật độ 6 thuê bao/100 dân. Số người sử dụng dịch vụ internet là 18,22 triệu người, chiếm 21,4% dân số.Việt Nam đang thực hiện kế hoạch phát triển các điểm nối mạng internet tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Theo đánh giá của tổ chức Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), Việt Nam là nước có tốc độ phát triển internet nhanh nhất thế giới.

Nhà nước Việt Nam chủ trương khuyến khích phát triển và sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân. Thông tư 07 của Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành ngày 18-12-2008, hướng dẫn thi hành Nghị định 97, nêu rõ mục đích của việc khuyến khích nhằm giúp mở rộng khả năng tương tác trên môi trường Internet để trao đổi, chia sẻ các thông tin; làm phong phú thêm đời sống xã hội và tinh thần gắn kết cộng đồng. Số người tham gia các diễn đàn trên mạng ngày càng nhiều, hiện ở Việt Nam đã có khoảng 1,1 triệu người viết nhật ký cá nhân trên mạng (blog).

Song song với chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh – sử dụng internet, Nhà nước có các quy định để bảo vệ an ninh quốc gia, các giá trị đạo đức – thuần phong mỹ tục, bảo vệ trẻ em khỏi tác động tiêu cực của Internet, ngăn chặn các hành vi phạm pháp, thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức và danh dự của công dân, Đây là một yêu cầu tất yếu và là thực tế áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. 

(ii) Về việc thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia độc lập theo quy định của Nguyên tắc Pari:

Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đã xây dựng những cơ chế khác nhau về đảm bảo quyền con người tuỳ theo hoàn cảnh riêng của mỗi nuớc. Luật pháp quốc tế về quyền con người coi trọng các cơ chế, biện pháp đảm bảo quyền con người nhưng không áp đặt một mô hình duy nhất trong lĩnh vực này. Trên thế giới, hiện có trên 60 quốc gia đã thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia, song cơ quan nhân quyền quốc gia ở mỗi nước khác nhau có đặc điểm riêng về tính chất, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn. Trên thực tế, cũng như đối với các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá khác nhau, hiện nay chưa thể nói đến một mô hình đảm bảo duy nhất nào.

Ở Việt Nam, hiện có nhiều cơ chế tham gia vào việc giám sát việc thực hiện các quyền trong từng lĩnh vực như: Ủy ban Dân tộc, Ban Tôn giáo Chính phủ, Thanh tra về trẻ em, bình đẳng giới… Hệ thống các thể chế đảm bảo quyền con người cũng rất đa dạng, gồm các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các cơ quan thông tin đại chúng và quần chúng nhân dân. Pháp luật có những quy định cụ thể nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế đảm bảo quyền con người trên các lĩnh vực, như đảm bảo quyền giám sát, phản biện chính sách của Nhà nước, tham gia vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội, quyền khiếu nại, tố cáo…Trong những năm qua, Việt Nam không ngừng đẩy mạnh cơ chế kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan trong hệ thống Nhà nước, nhất là vai trò lập pháp và giám sát của Quốc hội, nhằm tăng cường hiệu quả, tính minh bạch và dân chủ của các thiết chế Nhà nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức liên minh các dân tộc, tầng lớp nhân dân, cũng có vai trò quan trọng trong việc giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước và đại biểu dân cử, đồng thời tham gia phản biện xã hội đối với các chính sách của Nhà nước trước khi được thông qua. Và quan trọng hơn cả, sự tham gia trực tiếp của người dân thông qua các cơ chế pháp lý như bầu cử, ứng cử, chất vấn, khiếu nại, tố cáo và quy chế phát huy dân chủ ở cơ sở thực sự là cơ chế giám sát hiệu quả nhất đối với hoạt động của Nhà nước. Chính phủ Việt Nam luôn chủ trương tham khảo các kinh nghiệm quốc tế trong việc hoàn thiện các thiết chế đảm bảo quyền con người.

(iii) Về đề nghị Việt Nam gửi lời mời ngỏ đến các báo cáo viên đặc biệt và trước mắt mời một số báo cáo viên đặc biệt cụ thể vào thăm Việt Nam

Chính phủ Việt Nam luôn coi trọng và có cơ chế hợp tác tốt với cơ chế Báo cáo viên đặc biệt, các chuyên gia độc lập của LHQ, thể hiện qua việc trả lời thường xuyên, cung cấp thông tin đầy đủ đối với các kháng thư của các cơ chế này. Chính phủ Việt Nam đã mời và đón Nhóm làm việc về vấn đề giam giữ độc đoán vào thăm năm 1994, Báo cáo viên đặc biệt về tự do tôn giáo năm 1998. Trong tinh thần thiện chí và hợp tác với Liên hợp quốc nói chung và các cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc nói riêng, và trên cơ sở đề nghị của các Báo cáo viên đặc biệt, vừa qua Chính phủ Việt Nam đã chuyển lời mời đến Báo cáo viên đặc biệt về Quyền lương thực, Báo cáo viên về Giáo dục, Chuyên gia độc lập về Nhân quyền và đói nghèo, Chuyên gia độc lập về tác động của nợ nước ngoài đối với việc hưởng thụ quyền và Báo cáo viên về sức khoẻ vào thăm Việt Nam trong một vài năm tới. Việt Nam luôn mong muốn và sẵn sàng có sự hợp tác thường xuyên với các Báo cáo viên đặc biệt. Tuy nhiên, như nhiều Chính phủ khác, Chính phủ Việt Nam chưa đưa ra lời mời ngỏ vào lúc này (cho đến nay, cũng mới chỉ có 60 nước đưa ra lời mời ngỏ đến các Báo cáo viên đặc biệt). Việc thu xếp, bố trí thời điểm và khả năng đón tiếp để đảm bảo chuyến thăm của các Báo cáo viên thành công phải có sự thảo luận và thỏa thuận của các bên liên quan, phải trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, không can thiệp. Việt Nam hoàn toàn ủng hộ Nghị quyết 5/1 ngày 18/6/2007 của Hội đồng Nhân quyền quy định các báo cáo viên đặc biệt cần đáp ứng các yêu cầu về chuyên môn, kinh nghiệm, tính độc lập, không thiên vị, trung thực và khách quan. Cũng như các nước, Việt Nam luôn mong muốn có sự hợp tác với các Báo cáo viên đáp ứng những yêu cầu đó.

(iv) Về việc xóa bỏ, không thực hiện, công khai số liệu án tử hình và tham gia Nghị định thư thứ 2  của Công ước ICCPR

Luật pháp quốc tế và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị không có quy định yêu cầu các quốc gia phải xóa bỏ án tử hình. Việc áp dụng hay xóa bỏ án tử hình là phụ thuộc vào tình hình thực tế tại từng quốc gia. Hiện nay, để đấu tranh với tình hình tội pháp ngày càng phức tạp và nguy hiểm, án tử hình vẫn đang được coi là một biện pháp tích cực để răn đe các tội phạm nguy hiểm. Vì vậy, trước mắt Việt Nam chưa có kế hoạch xoá bỏ hoặc đình chỉ áp dụng án tử hình. Khi hoàn cảnh và điều kiện cụ thể cho phép việc xoá bỏ án tử hình, Việt Nam sẽ xem xét nghiên cứu, tham gia Nghị định thư thứ 2 của Công ước Các quyền dân sự chính trị về xoá bỏ án tử hình.

Tuy nhiên, trên tinh thần nhân đạo và phù hợp với luật pháp quốc tế, Việt Nam chủ trương chỉ áp dụng hình phạt tử hình đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Bộ luật Hình sự 1999 của Việt Nam đã giảm số tội danh áp dụng án tử hình từ 44 xuống còn 29 và không áp dụng án này đối với một số đối tượng như người vị thành niên, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi…Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 1999 đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ tháng 7/2009 đã giảm thêm 8 tội danh áp dụng án tử hình. Nhà nước Việt Nam cũng hết sức coi trọng việc đảm bảo để quá trình tố tụng xử lý đúng người, đúng tội. Các phán quyết về mức án tử hình và thi hành án được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng. 

(v) Về việc tham gia các điều ước quốc tế

Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chủ trương tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người và đến nay đã phê chuẩn hầu hết các công ước nhân quyền chủ chốt của Liên hợp quốc. Trên tinh thần đó, Việt Nam đang tiếp tục nghiên cứu, xem xét tích cực để tiến tới tham gia một số công ước nhân quyền quốc tế như Công ước Chống tra tấn (CAT) và phê chuẩn Công ước về Quyền của người tàn tật (CPD).

Do chưa tham gia CAT, Việt Nam chưa xem xét việc tham gia Nghị định thư của CAT. Đối với Quy chế Rome về Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) là vấn đề Nhà nước Việt Nam rất quan tâm, do quan điểm của các nước tư vấn có sự khác biệt và ICC vẫn còn là vấn đề khá mới, Việt Nam hiện đang nỗ lực nghiên cứu kỹ khía cạnh pháp luật của ICC cũng như chuẩn bị kỹ càng về vật chất và pháp lý trong nội bộ để tiếp cận ICC trước khi xem xét khả năng tham gia Quy chế Rome.

Theo http://www.mofa.gov.vn

3 responses to “Phụ lục: Trả lời của Việt Nam về các khuyến nghị – 2009

  1. Pingback: ANH BA SÀM TiVi » Blog Archive » Tự to ngôn luận tại Việt Nam dưới lăng kính của Nghị Viện Âu Châu.

  2. Pingback: Tự do ngôn luận tại Việt Nam dưới lăng kính c ủa Nghị Viện Âu Châu. |

  3. Pingback: Tự do ngôn luận tại Việt Nam dưới lăng kính c ủa Nghị Viện Âu Châu. | CHÂU XUÂN NGUYỄN

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s